Thứ tư, Ngày 14 Tháng 11 Năm 2018 - 3:34 PM Trang chủ     Niên giám thống kê     Thư điện tử     Liên hệ

Những chặng đường phát triển của ngành Thống kê Việt Nam

THỐNG KÊ VIỆT NAM THỜI KỲ 1946 - 1954

 

            I. Cách mạng Tháng 8 thắng lợi và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu thời kỳ mới của Cách mạng Việt Nam, đặt ra yêu cầu cấp thiết về số liệu thống kê phục vụ sự quản lý đất nước của chính quyền cách mạng non trẻ. Tiếp theo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) đã đặt bộ máy Thống kê mới sơ khai vào một hoàn cảnh đặc biệt, đầy khó khăn gian khổ.

            - Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, bộ máy chính quyền các cấp hình thành và đi vào hoạt động với các nhiệm vụ trọng tâm là diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Yêu cầu đối với công tác thống kê là rất lớn: Thu thập, tổng hợp và báo cáo kịp thời cho Chính phủ, các cấp chính quyền về tình hình kinh tế - xã hội của các địa phương, làm cơ sở để Chính phủ đề ra các quyết sách kịp thời về sản xuất và đời sống nhân dân dưới chế độ mới.

            Trong kháng chiến, tình hình biến chuyển rất nhanh và phức tạp, đòi hỏi các ngành, các cấp giải quyết khẩn trương. Trong khi đó, số liệu thống kê vừa thiếu, vừa chậm lại được ghi chép và truyền đưa hoàn toàn chỉ bằng phương tiện thô sơ, bộ máy Thống kê các cấp chưa hình thành. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho thống kê là phải hình thành tổ chức bộ máy thống kê.

            - Số liệu thống kê phải phản ánh được kết quả sản xuất công, nông nghiệp, tình hình ngân sách quốc gia, thuế nông nghiệp, thuế công thương, vũ khí đạn dược, dân công, bộ đội, đời sống nhân dân vùng tự do tản cư và nhân dân ở tại vùng tạm chiếm, số liệu về dân số, lao động phục vụ quốc phòng, dân công hoả tuyến, các lớp bình dân học vụ, kết quả các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, phục vụ các chiến dịch lớn… phục vụ yêu cầu của Chính phủ, các ngành, các cấp.

            - Sản phẩm thống kê cần đa dạng: thông tin định kỳ, đột xuất, nhanh, chuyên đề, tổng hợp, phân tích. Tình hình kháng chiến luôn luôn đòi hỏi công tác thống kê phải cập nhật thông tin về sản xuất và quốc phòng ở mọi vùng, mọi địa phương để có thể phục vụ kịp thời những yêu cầu của Chính phủ. Do vậy, sản phẩm thống kê phải đáp ứng các yêu cầu đó theo phương châm: kịp thời, toàn diện, đảm bảo độ tin cậy.

            - Phương pháp thống kê phải đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, phù hợp với yêu cầu thời chiến. Hình thức thu thập số liệu chủ yếu là điều tra nhỏ, điều tra chuyên đề, phạm vi hẹp ở vùng tự do, vùng mới giải phóng. Chế độ báo cáo thống kê định kỳ chỉ áp dụng trong một số ngành và lĩnh vực có điều kiện (công nghiệp, thương mại, các Ty cấp tỉnh…)

            - Thông tin thống kê trong thời kỳ này phải đảm bảo cung cấp kịp thời cho Đảng và Chính phủ theo yêu cầu lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc. Vì vậy, thông tin thống kê cần bám sát yêu cầu của các kỳ họp Chính phủ hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, 9 tháng, năm; các kỳ họp Quốc hội và nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951). Bên cạnh đó, thông tin thống kê còn phải đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, xây dựng các chính sách của Đảng và Nhà nước phục vụ kháng chiến và kiến quốc (thuế, giảm tô, giảm tức, ruộng đất, huy động sức người, sức của cho kháng chiến, xây dựng kinh tế vùng tự do vv…).

            - Phạm vi thống kê phải rõ ràng, phù hợp với yêu cầu từng ngành: Tài chính, thuế, nông nghiệp, công thương nghiệp, giá cả, ngân hàng, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, vv…

            II. Hoạt động thống kê thời kỳ 1946 - 1954.

            1. Công tác tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy thống kê:

            Xuất phát từ yêu cầu của Chính phủ, chính quyền các cấp và để phục vụ quản lý Nhà nước trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 6-5-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 61/SL thành lập Nha Thống kê Việt Nam, nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế.

            Tổ chức Thống kê được quy định rõ là Nha Thống kê Việt Nam để phân biệt với cơ quan Thống kê do thực dân lập ra và đã bị bãi bỏ.

            Ngày 18/5/1946, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đã ra Nghị định số 102/BQDKT về việc quy định nhiệm vụ và tổ chức của Nha Thống kê Việt Nam như sau:

            - Nha Thống kê Việt Nam đặt dưới quyền điều khiển của một Giám đốc theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế.

            Nhiệm vụ của Nha Thống kê là:

            - Sưu tầm và thu thập những tài liệu và những con số có liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế hay văn hoá.

            - Xây dựng phương sách về thống kê.

            - Kiểm soát công việc của những Ty Bảo hiểm Việt Nam và nước ngoài.

            Nhân sự của Nha thống kê lúc này gồm có 3 người là các ông Lương Duyên Lạc, Phùng Đình Tín và Nguyễn Văn Tân được chuyển giao từ Sở Thống kê Phủ toàn quyền cũ sang và ông Nguyễn Thiệu Lâu được bổ nhiệm là Giám đốc. Trong số 4 người này chỉ có ông Nguyễn Thiệu Lâu tốt nghiệp 2 bằng cử nhân: văn khoa và sử địa ở Pháp là được đào tạo về chuyên môn thống kê, số còn lại đều là thư ký, thông phán toà sứ.

            Nha Thống kê Việt Nam có 3 phòng:

            - Phòng nhất coi về nhân viên, kế toán, vật liệu, lưu trữ công văn, xuất bản các sách báo.

            - Phòng nhì: thống kê dân số, văn hoá, chính trị.

            - Phòng ba: thống kê tài chính.

            Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp bùng nổ trên phạm vi cả nước. Các cơ quan của Chính phủ rời Thủ đô lên Việt Bắc để lãnh đạo kháng chiến. Từ chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ tiếp tục lãnh đạo toàn dân thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Hoạt động công tác thống kê trong giai đoạn này từng bước được hoàn thiện về tổ chức bộ máy.

            Nha Thống kê Việt Nam được Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế giao nhiệm vụ và ổn định tổ chức bằng Chỉ thị số 115 TK/LC ngày 10/8/1948. Theo Chỉ thị này, Nha Thống kê Việt Nam có các nhiệm vụ sau: Thống kê giáo dục; Thống kê công chính; Thống kê kinh tế; Thống kê dân số, cụ thể là: thống kê về người (thuộc phạm vi Bộ Nội vụ): kiểm kê về người xếp theo tuổi, số sinh, tử; Thống kê canh nông thuộc các Nha, Bộ Canh nông: nông chính, thuỷ lâm, thủy ngư; Thống kê thương mại giá cả: thuộc phạm vi Nha Thương vụ và Ngoại thương, Nha Thuế quan; Thống kê về tiểu công nghệ và công nghệ: thuộc Nha Khoáng chất và kỹ nghệ; Thống kê dân sinh: Nha Thống kê trực tiếp làm, phản ánh kịp thời việc ổn định đời sống của đồng bào tản cư và đồng bào cư ngụ, sinh sống tại địa phương.

            Tổ chức cán bộ thống kê các cấp bước đầu hình thành:

            - Ở Trung ương có:

            + Phòng Công văn, viên chức và kế toán.

            + Phòng chuyên môn điều tra thống kê.

            Cán bộ: tổng số có 10 người, chuyển từ các Nha khác sang, chủ yếu là cán bộ chính trị làm các công việc ở nhiều tổ:

            + Nhân viên tĩnh.

            + Nhân viên lưu động.

            Nhiệm vụ của các tổ này là:

            + Kiểm soát cụ thể việc thi hành các chế độ giúp đỡ các Nha thuộc Bộ.

            + Làm các công việc điều tra theo chương trình.

            Trách nhiệm của cơ quan Thống kê Trung ương là: Thu thập tài liệu của các khu, kiểm soát và trình bày gửi lên Bộ. Liên lạc với các Nha để lấy tài liệu (các Nha của Bộ gồm 5 Nha).

            - Ở cấp liên khu có: Phòng Thống kê liên khu.

            Phòng Thống kê liên khu đặt trong Văn phòng Giám đốc kinh tế liên khu (theo thư số 61 TK/LC ngày 10/7/1948) có nhiệm vụ:

            +  Đôn đốc và tập trung các báo cáo kinh tế của các Ty kinh tế.

            + Làm báo cáo về tình hình kinh tế chung cho Nha Thống kê Việt Nam thuộc các ngành canh nông, công nghệ thương mại.

            + Soạn thảo các chương trình điều tra và đề nghị các chương trình đó lên Nha Thống kê, thi hành chương trình do Nha Thống kê giao cho.

            + Liên lạc với các cơ quan cấp khu: canh nông, địa chính, thuế quan, Uỷ ban kháng chiến hành chính để lấy tài liệu cần thiết, đơn vị căn bản là  huyện.

            + Giám sát và đề xuất các công việc của các Ty Kinh tế tỉnh.

            - Ở cấp tỉnh: Có cán bộ thống kê trong Ty Kinh tế tỉnh.

            Hoạt động thống kê cấp tỉnh có nhiệm vụ thực hiện việc thu thập số liệu và báo cáo thống kê theo quy định:

            + Phân phát các mẫu thống kê về giá thị trường cho các đồn Công an nhờ Ty Công an làm. Trưởng Ty Công an tập trung vào ngày 15 và 30 mỗi tháng gửi cho Trưởng Ty Kinh tế.

            + Mỗi tháng hai kỳ làm báo cáo dựa vào tài liệu của các đồn Công an đã thu thập gửi cho Nha Thống kê và Sở Giám đốc Kinh tế liên khu.

            Để tạo điều kiện làm việc có hiệu quả hơn, ngày 25-4-1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 33/SL sáp nhập Nha Thống kê Việt Nam vào Phủ Chủ tịch. Nha Thống kê vẫn đặt dưới sự lãnh đạo của Giám đốc Nguyễn Thiệu Lâu, trụ sở ở xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Hệ thống tổ chức Thống kê các cấp đã hình thành bao gồm tổ chức Thống kê của các Uỷ ban Kháng chiến hành chính liên khu và tỉnh trong toàn quốc, các tổ chức Thống kê chuyên trách của các Bộ, các cơ quan nghiệp vụ kỹ thuật trong bộ máy chính quyền, các cơ quan thuộc hệ thống đoàn thể.

            Ngày 11/7/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 124/SL bãi bỏ Nha Thống kê Việt Nam.

            Ngày 9/8/1950 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 38/TTg thành lập Phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng phủ do ông Lương Duyên Lạc làm Trưởng phòng với 3 cán bộ. Phòng Thống kê có nhiệm vụ: thu thập và xếp đặt những tài liệu thống kê của các Bộ và các Uỷ ban hành chính kháng chiến địa phương, giúp các Bộ và các Uỷ ban hành chính kháng chiến tổ chức và hướng dẫn theo dõi thống kê.

            Phòng Thống kê đặt trong Văn phòng Thủ tướng phủ, hoạt động thống kê có nhiều thuận lợi hơn trong việc nắm bắt yêu cầu và được phục vụ trực tiếp.

            2. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành đảm bảo thông tin thống kê.

            Thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, Đảng và Nhà nước rất cần những thông tin thống kê toàn diện, kịp thời và độ tin cậy cao để kịp thời đề ra các quyết sách đúng đắn cho từng giai đoạn.

            Với nhiệm vụ, tổ chức và nhân sự được xác định như trên, Nha Thống kê Việt Nam (sau là Phòng Thống kê) trong thời gian này triển khai nhiều cuộc điều tra nhỏ, bước đầu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ để thu thập, xử lý số liệu thuộc nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, Nha Thống kê Việt Nam đã kịp thời cung cấp cho Chính phủ và chính quyền các cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế - xã hội.

            Những hoạt động thống kê chủ yếu trong thời kỳ này là tập trung thu thập và báo cáo các thông tin về nông nghiệp, nhất là thống kê đất đai, đồng thời tiến hành thống kê công, thương nghiệp ở vùng tự do. Cụ thể như sau:

            - Thống kê sở hữu ruộng đất theo các chỉ tiêu: diện tích đất đai đã phân chia cho nông dân, số hộ và số ruộng đất thuộc sở hữu của các giai cấp (địa chủ, phú nông, trung nông và bần cố nông) ở nông thôn qua các thời kỳ trước 1945 và trước cải cách ruộng đất để phục vụ xây dựng chính sách thuế nông nghiệp, giảm tô, giảm tức, lập tổ đổi công, chuẩn bị cải cách ruộng đất…

            - Thống kê sử dụng ruộng đất theo loại ruộng chiêm 1 vụ; chiêm chắc mùa thường hỏng; hai vụ chiêm mùa ăn chắc; mùa chắc chiêm thường hỏng; mùa 1 vụ; mùa một vụ sau trồng ngô, trồng khoai, trồng các thứ màu khác; ruộng mạ sau cấy chiêm; đất trồng; đất thổ cư; đất hoang; đầm ao; tha ma; đình chùa… tình hình khai hoang, phục hoá ở vùng mới giải phóng, vùng tự do.

            - Thống kê kết quả sản xuất nông nghiệp có các chỉ tiêu: diện tích, năng suất, sản lượng thu hoạch lúa và một số loại hoa màu, cây công nghiệp, số lượng đàn trâu bò, lợn, ngựa, dê.

            - Thống kê các biện pháp thúc đẩy và bảo vệ sản xuất nông nghiệp có các chỉ tiêu: số tổ, số người tham gia tổ đổi công, kết quả hoạt động thuỷ lợi (chống hạn, chống úng).

            - Thống kê tiểu công nghệ và kỹ nghệ có các chỉ tiêu về sản lượng sản phẩm, các loại phương tiện sản xuất, số lượng các cơ sở sản xuất (thu thập từ các Ty Kinh tế, Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ). Ngoài ra, Nha Thống kê Việt Nam còn tiến hành một số cuộc điều tra chuyên môn để nghiên cứu tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp.

            - Thống kê thương mại và giá cả:

            + Thống kê thương mại theo dõi hoạt động thương nghiệp giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm theo một số chỉ tiêu: giá trị hàng hoá xuất, nhập khẩu qua các thương khẩu và qua vùng tạm chiếm (thu thập qua tài liệu các cơ quan bao vây, đấu tranh kinh tế với địch, ngoại thương cục vv…)

            + Các hoạt động lưu thông hàng hoá, các tiểu thương và nhân dân ở các chợ nông thôn. Đây là một hoạt động đặc thù bảo đảm phát triển kinh tế vùng tự do trong kháng chiến khi ta chưa tổ chức được các tổ chức thương nghiệp quốc doanh do khó khăn về đường sá, phương tiện vận tải, địch bắn phá vv…

            + Nha Thống kê (Phòng Thống kê) tiến hành điều tra mạng lưới chợ: danh mục các chợ, các phiên họp, địa điểm kết hợp chặt chẽ với việc nghiên cứu trạng thái địa lý tự nhiên các tỉnh trung du và miền núi do đích thân Giám đốc Nha chỉ đạo cán bộ của Nha tiến hành. Tài liệu về chợ nông thôn  rất cần thiết cho việc thu thập số liệu về giá cả thị trường, được tiến hành chặt chẽ qua báo cáo định kỳ theo mẫu thống kê in sẵn ghi các mặt hàng cần lấy giá do các Ty Kinh tế phân phát đến đồn Công an.

            - Thống kê dân sinh và thống kê tổng hợp.

            + Thống kê về dân số: trong kháng chiến nguồn nhân lực là một trong những chỉ tiêu quan trọng phục vụ cho quốc phòng và phát triển kinh tế. Do đó, thống kê dân số được coi trọng. Chỉ tiêu quan trọng nhất là số người (xếp theo độ tuổi, số sinh, số chết), được Nha Thống kê Việt Nam thu thập và tổng hợp qua Bộ Nội vụ và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu, tỉnh và xã. Ngoài ra, Nha Thống kê Việt Nam còn có báo cáo về số lượng nhân viên Chính phủ, các ngành trung ương, chính quyền các cấp địa phương các năm 1948 - 1949.

            + Thống kê dân sinh: Đây là loại số liệu được Nha Thống kê Việt Nam đặc biệt chú ý và trực tiếp tổ chức lực lượng thu thập, chủ yếu về mức sống của nông dân các điền chủ, tiểu nông và cố nông. Số nhân công và giá nhân công, tổ chức làng xã Việt Nam. Các vấn đề trên được tiến hành bằng phương pháp thống kê địa lý cùng với phương pháp thống kê kinh tế, áp dụng trong vùng tự do.

            + Thống kê tổng hợp: Hàng tháng, Nha Thống kê Việt Nam và các Ty Kinh tế làm báo cáo phân tích kinh tế tổng hợp gồm các phần: tình hình nông nghiệp (gạo, hoa màu), tình hình sản xuất tiểu công nghiệp, các vấn đề do chiến tranh gây ra (tiền tệ, hối đoái, buôn lậu).

            Với số biên chế có hạn nhưng các tổ chức thống kê lúc đó đã làm nhiều công tác thống kê về giá cả, về sản lượng sản phẩm nông nghiệp (thóc, hoa màu…), tình hình đấu tranh kinh tế với địch, cụ thể là thống kê số lượng xuất nhập khẩu hàng hoá giữa hai vùng tự do và tạm chiếm. Ngoài ra, Nha Thống kê (Phòng Thống kê) làm báo cáo với Chính phủ về tình hình kinh tế từng miền, toàn quốc hàng tháng, báo cáo kinh tế 3 năm 1947 - 1949 và tiến hành cuộc điều tra lớn về tình hình nông thôn vùng tự do.

            - Cuộc điều tra nông thôn 1951 - 1952.

            Cuộc kháng chiến toàn quốc chuyển sang giai đoạn chuẩn bị tổng phản công đòi hỏi toàn dân, toàn quân tập trung nhân tài, vật lực bảo đảm “thực túc binh cường”, ổn định đời sống nhân dân vùng tự do, chi viện sức người, sức của cho kháng chiến. Để kịp thời cung cấp thông tin kinh tế - xã hội nông thôn để Chính phủ quyết định quyết sách chiến dịch Thu Đông 1953 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Phòng Thống kê tổ chức cuộc điều tra về tình hình nông thôn tại Nghệ An.

            Chọn Nghệ An làm nơi điều tra vì đây là một tỉnh đại diện cho vùng tự do lại vừa là vựa thóc và nguồn lực dồi dào phục vụ cho kháng chiến của cả nước.

            Mục đích của cuộc điều tra là:

            - Nắm được vị trí của nông thôn trong chiến tranh.

            - Nắm được tiềm năng cụ thể các mặt của nông thôn.

            - Thấy được những tồn tại về các mặt quản lý của Nhà nước như quản lý sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sinh hoạt văn hoá giáo dục… của nhân dân.

            - Nắm tình hình quản lý đất đai, hiện trạng phân bổ giai cấp nông dân.

            - Nắm tình hình huy động sức dân để có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm bồi dưỡng sức dân.

            Cuộc điều tra được tiến hành từ tháng 5 năm 1951 đến tháng 1 năm 1952 dưới sự chỉ đạo của một Ban điều tra liên tỉnh (do trung ương và địa phương thống nhất chỉ đạo). Phương pháp triển khai là: Ban điều hành chọn một xã điều tra thử điển hình một buổi rút kinh nghiệm sau đó mở rộng ra các xã và toàn tỉnh cùng làm đồng thời, theo nội dung thống nhất. Nội dung cuộc điều tra khá toàn diện, bao gồm:

            a. Đặc điểm tổng quát của xã về các mặt địa lý tự nhiên, phân bố diện tích, dân số, hiện trạng tổ chức chính quyền, đoàn thể ở xã.

            b. Điều tra nông nghiệp:

            - Điều tra diện tích các loại ruộng đất.

            - Điều tra sản lượng thu hoạch của các loại diện tích nêu trên và việc chăn nuôi gia súc, gia cầm.

            - Những vấn đề thuộc quản lý nông nghiệp còn tồn tại.

            c. Điều tra tiểu công nghệ bao gồm:

            - Các ngành nghề sản xuất đồ dùng hàng ngày bằng sức lực chân tay (không dùng máy móc).

            - Sự phân bổ các ngành nghề cổ truyền ở địa phương.

            - Các vấn đề về vốn, nguyên liệu, nhân công và tiêu thụ sản phẩm.

            - Những tồn tại trong quản lý tiểu công nghệ.

            d. Điều tra chợ và tình hình thương mại:

            - Lập bản đồ chợ, nêu rõ các mạng lưới chợ trong đó có chợ chính, chợ phụ.

            - Số người buôn bán ở chợ và số vốn phân chia theo các loại chợ căn cứ vào số người tham gia.

            - Những kiến nghị về tổ chức mạng lưới chợ và quản lý thương mại.

            e. Tình hình giai cấp nông dân và chiếm hữu ruộng đất ở nông thôn:

            - Tình hình phân bổ các loại ruộng: Công điền, tư điền, ruộng của xã chia cho dân, ruộng của đại điền chủ.

            - Tình hình chiếm hữu các loại ruộng.

            - Các loại đóng góp hiện hành của nông dân.

            - Những kiến nghị về cải tiến các loại đóng góp của nông dân.

            f. Những số liệu và kiến nghị hoạt động về văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội.

            g. Nhận xét tổng quát về hoạt động của làng, xã trong tỉnh.

            - Số liệu tổng hợp về các mặt hoạt động.

            - Những kiến nghị về cải tiến các biện pháp huy động và bồi dưỡng sức dân phục vụ kháng chiến.

            - Những kiến nghị đẩy mạnh hoạt động sản xuất các mặt ở xã.

            - Những kiến nghị về phát triển nền văn hoá quần chúng ở nông thôn, mở rộng đại đoàn kết, giữ vững trật tự, an ninh ở xóm làng.

            Dưới sự lãnh đạo sát sao của Uỷ ban kháng chiến hành chính Nghệ An và sự chỉ đạo chặt chẽ về mặt nghiệp vụ của Phòng Thống kê, cuộc điều tra nông thôn được tiến hành thuận lợi, đạt được những kết quả tốt. Số liệu điều tra đã được cung cấp kịp thời cho Trung ương Đảng, Chính phủ, các ngành và các cấp, phục vụ yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến trong giai đoạn chuẩn bị tổng phản công.

            Cùng với cuộc điều tra nông thôn, hoạt động thống kê còn triển khai trên nhiều lĩnh vực, thu thập số liệu, điều tra chuyên đề tình hình kinh tế - xã hội vùng tự do, vùng mới giải phóng, sản xuất công nghiệp, thương mại, tài chính, ngân hàng, giảm tô, giảm tức, ruộng đất, thuế. Các số liệu và báo cáo thống kê đã phục vụ kịp thời yêu cầu của Đảng và Nhà nước trong việc ban hành và bổ sung các chính sách kinh tế - tài chính quan trọng như:

            - Điều lệ tạm thời Thuế nông nghiệp gồm 20 điều (NĐ 109/TTg ngày 22/7/1951).

            - Điều lệ tạm thời Thuế hàng hoá (NĐ 110/TTg ngày 22/7/1951) gồm 12 điều và biểu thuế hàng hoá kèm theo.

            - Bản phân tích thành phần giai cấp ở nông thôn (NĐ số 239B/TTg ngày 5/3/1953 của Thủ tướng Chính Phủ).

            - Bản quy định về chính sách ruộng đất (Sắc lệnh số 149/SL ngày12/4/1953) và văn bản quy định chi tiết về việc thi hành Sắc lệnh này.

            - Luật Cải cách ruộng đất (ban hành bằng Sắc lệnh 197/SL ngày 9/12/1953).

            - v.v…

            Cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn chuẩn bị tổng phản công, hoạt động thống kê chuyển sang nghiên cứu xã hội sâu hơn để cung cấp cho Đảng và Nhà nước nhiều thông tin tổng hợp nhằm hoạch định chiến lược phát triển kinh tế vùng tự do, củng cố hậu phương, góp phần tăng nguồn lực, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đó là thời kỳ ngành Thống kê tiến hành một số cuộc điều tra chuyên môn để thu thập số liệu về tiềm năng của nhân dân ta trong việc cung ứng cho mặt trận và nâng cao đời sống. Qua điều tra, Chính phủ đã có cơ sở để đề ra các chính sách mới, huy động bộ đội, dân công, lương thực cho kháng chiến và bồi dưỡng sức dân phục vụ tiền tuyến.

            - Sản phẩm thống kê giai đoạn này rất đa dạng: Đó là các cuốn niên giám thống kê, các báo cáo phân tích thống kê về các mặt kinh tế - xã hội và quốc phòng phục vụ các kỳ họp thường kỳ của Chính phủ, các liên khu, các tỉnh, huyện vùng tự do. Bên cạnh các báo cáo tổng hợp, sản phẩm thống kê còn thể hiện qua các báo cáo chuyên đề về ruộng đất, giảm tô, giảm tức, tổ đổi công, đời sống nhân dân tại vùng tự do.

            Những sản phẩm cụ thể của các hoạt động thống kê thời kỳ 1945 - 1954 không chỉ phát huy tác dụng phục vụ kháng chiến và kiến quốc lúc bấy giờ mà còn lưu lại trong lịch sử phát triển của đất nước qua nhiều thế hệ. Đó là những con số biết nói, những linh hồn của các báo cáo kinh tế - xã hội cả nước thời kỳ này. Những sản phẩm của thống kê tuy còn đơn giản, nhưng đã phác họa khá đầy đủ bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước ta trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

            3. Công tác phương pháp chế độ:

            Trong điều kiện kháng chiến, bộ máy tổ chức và cán bộ thống kê các cấp mới hình thành, còn nhiều hạn chế, công tác phương pháp chế độ thống kê thời kỳ này chỉ dừng lại ở các khâu cơ bản: phương pháp thu thập số liệu, cách tổng hợp, các chỉ tiêu, chế độ báo cáo, phương án điều tra các cuộc điều tra lớn. Nha Thống kê quan tâm nhiều đến việc chỉ dẫn phương pháp tiến hành công việc chuyên môn, ra các văn bản quy định thống nhất về mặt nghiệp vụ như:

            - Mẫu báo cáo thống kê tổng hợp ở cấp tỉnh về tình hình kinh tế, xã hội.

            - Phương pháp quy đổi các đơn vị tính hiện vật quy ước.

            - Chế độ báo cáo 6 tháng và năm kèm theo phụ bản số liệu thống kê cho các ngành.

            - Chế độ cung cấp và trao đổi tài liệu thống kê giữa cơ quan thống kê và các cơ quan quản lý khác.

            Mọi liên hệ giữa cấp dưới và cấp trên trong giai đoạn đầu của cuộc  kháng chiến, Nha Thống kê Việt Nam đều thực hiện qua đường thư bưu điện vì hoàn cảnh không cho phép tổ chức được các cuộc hội nghị phổ biến công tác chỉ đạo nghiệp vụ.

            Mặt khác, mọi việc tiếp xúc với thực tế địa phương đều được thực hiện qua việc cán bộ đi công tác.

            Thời kỳ 1946 - 1954, trong điều kiện khó khăn nhiều mặt, hoạt động thống kê Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu: Tổ chức bộ máy hình thành, nội dung và phương pháp thống kê phù hợp với điều kiện kháng chiến, sản phẩm thống kê đã bám sát yêu cầu của các ngành, các cấp. Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, tuy hoạt động chủ yếu trong thời chiến, nhưng ngành Thống kê Việt Nam về cơ bản đã làm tròn chức năng tham mưu về thông tin số liệu và tình hình kinh tế - xã hội các vùng, các địa phương, phục vụ yêu cầu của Trung ương Đảng và Chính phủ trong công tác lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc. Tuy nhiên, những kết quả đạt được trên đây vẫn còn rất hạn chế về nhiều mặt, trong đó rõ nét nhất là: Tổ chức bộ máy không ổn định, cán bộ thiếu về số lượng, yếu về trình độ; phương pháp đơn điệu, không đồng bộ, sản phẩm thống kê còn nghèo, chất lượng thấp và thiếu hệ thống…

 

CHƯƠNG II

THỐNG KÊ VIỆT NAM THỜI KỲ 1955 - 1975

           

            I. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu đặt ra đối với công tác thống kê.          

            1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội.

            1.1. Giai đoạn khôi phục kinh tế từ 1955 đến 1957.

            Sau khi miền Bắc được giải phóng, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, nền kinh tế nhỏ bé, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cơ sở kinh tế nghèo nàn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá, sản xuất bị ngưng trệ, thiếu nguyên vật liệu, năng lượng… Đội quân thất nghiệp ở các thành phố tăng lên. Ở nông thôn, ruộng đất bị bỏ hoang, sức kéo trong nông nghiệp thiếu nghiêm trọng, công cụ sản xuất vừa lạc hậu lại không đủ. Các công trình giao thông vận tải như đường sắt, nhà ga, bến cảng hầu như tê liệt, vv…

            Trong điều kiện đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) đã họp và đề ra nhiệm vụ nhanh chóng khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Mục tiêu và yêu cầu đặt ra lúc này là khôi phục lại mức sản xuất bằng mức trước chiến tranh (1939), hàn gắn vết thương chiến tranh, giảm bớt khó khăn và nâng cao dần mức sống của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng và phát triển kinh tế có kế hoạch sau này.

            Ở nông thôn, tiếp tục tiến hành cuộc cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân mà đại bộ phận là nông dân.

            1.2. Giai đoạn cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc (1958 - 1960).

            Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này là củng cố và phát huy những kết quả đã đạt được trong khôi phục kinh tế, ra sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm nhằm giải quyết vấn đề lương thực, hàng tiêu dùng, hết sức chú trọng tăng thêm tư liệu sản xuất, tiếp tục đấu tranh ổn định tình hình kinh tế tài chính trước hết là ổn định giá cả thị trường.

            1.3. Giai đoạn 1961 - 1965:

            Sau khi hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, miền Bắc nước ta chuyển sang thời kỳ xây dựng mới, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), với một số nhiệm vụ chủ yếu, đó là:

            - Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, tích cức phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã.

            - Hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh.

             - Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề.

            - Cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động. Đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế cần ra sức củng cố quốc phòng tăng cường trật tự an ninh.

            Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đang bước vào giai đoạn cuối, thì ngày 5/8/1965, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ đã xảy ra.

            1.4. Giai đoạn 1966 - 1975:

Tiếp tục xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; tích cực chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (Khoá III- kỳ họp đặc biệt) tháng 3 năm 1965 đã chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc là:

- Kịp thời chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển của tình hình. Phải chú trọng phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp mạnh hơn, chú trọng hơn nữa việc xây dựng những xí nghiệp vừa và nhỏ.

- Phải điều chỉnh lại các chỉ tiêu xây dựng cơ bản trong ngành công nghiệp và danh mục các công trình công nghiệp đang xây dựng.

- Phải tích cực xây dựng và phát triển kinh tế theo từng vùng chiến lược quan trọng, làm cho mỗi vùng có khả năng tự giải quyết phần lớn nhu cầu ăn, mặc, ở, học, bảo vệ sức khoẻ, tiêu dùng thiết yếu phục vụ sản xuất, xây dựng và chiến đấu.

- Phải chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, đào tạo cán bộ điều tra cơ bản, thăm dò tài nguyên,…

- Tăng cường động viên nhân tài vật lực của nhân dân phục vụ chiến tranh, ra sức tiết kiệm, tăng cường dự trữ vật tư­ của Nhà nước và nhân dân, bảo đảm đời sống nhân dân.

Đầu năm 1973, với việc ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn mới, với nhiệm vụ trước mắt của đồng bào hai miền Nam, Bắc là: Tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hoà bình lâu dài, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất tổ quốc.

            2. Những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với công tác thống kê.

            Đáp ứng các yêu cầu thông tin thống kê của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cũng như các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác luôn luôn là nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với ngành Thống kê nước ta.

            Từ sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, nhu cầu thông tin thống kê đã tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Để kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ khôi phục cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng kế hoạch, điều hành, quản lý nền kinh tế đất nước, Điều lệ 695/TTg ngày 20-2-1956 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định nhiệm vụ của Cục Thống kê Trung ương là: lãnh đạo thống nhất và tập trung mọi công việc thống kê và kế toán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Sưu tầm, thu thập, khai thác nghiên cứu và đệ trình Chính phủ những tài liệu thống kê chính xác, phân tích một cách khoa học để có thể nêu được quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước, sự phát triển kinh tế và văn hoá trong nước, những nguồn tài nguyên và cách sử dụng tài nguyên đó, tỷ lệ phát triển của các ngành kinh tế, văn hoá và mức độ phát triển của từng ngành.

            Để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin thống kê, một số yêu cầu đặt ra đối với ngành Thống kê nước ta giai đoạn này là:

            a. Nhanh chóng xây dựng, ổn định và củng cố bộ máy thống kê trong cả nước từ trung ương đến cơ sở; xác định rõ chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của bộ máy thống kê để có thể thực hiện đầy đủ những yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Ngành Thống kê phải nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ những yêu cầu cần thiết để xây dựng và cải tiến, hoàn thiện bộ máy tổ chức của ngành Thống kê nước ta phù hợp với tình hình và nhiệm vụ đặt ra đối với ngành.

            Để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngành Thống kê phải nhanh chóng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững những vấn đề lý luận thống kê tiên tiến và am hiểu thực tế. Do đó, ngành Thống kê phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ một cách toàn diện và có hệ thống, bằng các hình thức đào tạo và bồi dưỡng khác nhau như tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thông qua các lớp nghiệp vụ ngắn ngày, dài ngày trong nước với các hình thức tại chức, chuyên tu, chính quy ở các trường trung học, đại học và cử đi học tại nước ngoài.

            Vấn đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành Thống kê cũng là một yêu cầu cấp thiết để bảo đảm các điều kiện cho ngành hoạt động như trụ sở làm việc, phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn, phương tiện đi lại vv…

            b. Phải kịp thời tiến hành tổ chức các cuộc điều tra, nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội.

            Nhiệm vụ đề ra trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế cho ngành Thống kê là phải kịp thời tổ chức các cuộc điều tra, thu thập những số liệu cơ bản làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá hiện trạng đất nước, mà Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khoá 2 (8-1955) đã đặt ra.

            Các cuộc điều tra cần tiến hành bao gồm:

            - Điều tra sản xuất công nghiệp để nắm các chỉ tiêu về giá trị tổng sản lượng, sản lượng hàng hoá, lao động, tiền lương, xuất nhập tồn kho nguyên nhiên vật liệu, thiết bị; Điều tra về giao thông vận tải và Bưu điện để nắm khối lượng vận chuyển, phương tiện vận tải; hoạt động bưu điện. Đối với đầu tư xây dựng cơ bản, điều tra để nắm số liệu về đầu tư xây dựng chia theo cơ cấu, hạng mục, công trình hoàn thành, giá trị tài sản cố định mới tăng, năng lực mới tăng vv…

            - Điều tra thương nghiệp để nắm giá trị hàng hoá bán ra, mua vào, mạng lưới thương nghiệp, tỷ trọng tiêu thụ hàng hoá bán ra giữa quốc doanh và tư doanh, chia theo tổng mức bán buôn, bán lẻ, chia theo ngành thương mại, chia theo loại hàng chủ yếu.

            Nhiệm vụ của ngành Thống kê trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, văn hoá, xã hội  (1958-1960), là phải nâng cao chất lượng báo cáo, đảm bảo tính kịp thời, chú ý thu thập, tổng hợp nhiều hơn các chỉ tiêu chất lượng về kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ công cuộc cải tảo xã hội chủ nghĩa và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) của Đảng và Chính phủ.

            Ngành Thống kê cần có sự phân công phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để tổ chức các cuộc điều tra thống kê, chủ động tìm hiểu nhu cầu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, từng nơi để vận dụng một cách linh hoạt các cuộc điều tra thống kê như tiến hành các cuộc điều tra toàn bộ, không toàn bộ, điều tra điển hình, điều tra chuyên đề… để kịp thời có số liệu phục vụ yêu cầu lãnh đạo.

            Phương hướng và nhiệm vụ công tác thống kê trong giai đoạn kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 là: Ra sức phát triển công tác thống kê một cách toàn diện, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng của tài liệu thống kê, phải làm nhanh, làm nhiều và làm tốt công tác điều tra tình hình kinh tế - xã hội. Cụ thể là:            Trong nông nghiệp vấn đề đặt ra lúc này là cần nắm rõ về đất đai, các loại ruộng đất 2 vụ, 1 vụ có thể tăng thêm vụ, đất đai khai hoang, diện tích trồng các loại cây công nghiệp vv… Cần phải có những cuộc điều tra mới để có những số liệu sát với thực tế. Trong lưu thông, phân phối, để nắm được những hàng hoá vật tư, cần phải có những tài liệu chính xác hơn về của cải vật chất xã hội trước hết là vật tư của Nhà nước để có căn cứ tính toán cân đối kinh tế vv…

            c. Yêu cầu nhanh chóng xây dựng và thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ. Yêu cầu này xuất phát từ thực tế là các đơn vị sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ chủ yếu là thuộc khu vực nhà nước hoặc tập thể. Muốn thực hiện tốt chế độ báo cáo thống kê cần xây dựng chế độ ghi chép ban đầu. Trong điều kiện nền kinh tế quốc doanh và tập thể càng ngày càng được mở rộng, chế độ báo cáo thống kê định kỳ là hình thức chủ yếu để thu thập số liệu thống kê.

            Để đáp ứng tốt yêu cầu của lãnh đạo - Tổng cục Thống kê phải thường xuyên phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan cải tiến, sửa đổi bổ sung chế độ báo cáo thống kê cho phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng ngành và bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất của công tác thống kê theo quy định của Nhà nước. Ngành Thống kê phải tăng cường việc kiểm tra, đôn đốc việc chấp hành chế độ báo cáo thống kê của các đơn vị cơ sở, của  các Bộ, ngành và của các địa phương nhằm bảo đảm cung cấp kịp thời những số liệu thống kê cần thiết cho các cơ quan quản lý trong công tác điều hành, xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước.

            d. Xây dựng chế độ hạch toán thống nhất để đảm bảo thu thập được những số liệu thống kê có độ tin cậy ngày càng cao. Ngành Thống kê có trách nhiệm tổ chức quản lý thống nhất công tác hạch toán ở cơ sở cũng như ở các ngành kinh tế, hướng dẫn công tác ghi chép ban đầu, giúp cơ sở thống nhất các loại chứng từ, sổ sách, biểu mẫu và cách thức ghi chép số liệu ban đầu. Ngành Thống kê phải cùng các ngành có liên quan nghiên cứu thống nhất nội dung, phạm vi và phương pháp tính các chỉ tiêu xây dựng và ban hành hệ thống các biểu mẫu báo cáo, bảng phân ngành kinh tế quốc dân, các bảng danh mục, bảng giá cố định vv… để sử dụng t