Thứ tư, Ngày 13 Tháng 11 Năm 2019 - 7:01 PM Trang chủ     Niên giám thống kê     Thư điện tử     Liên hệ

Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới, tụt 2 bậc so với cách đây 10 năm, và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines).

 Lãnh đạo Chính phủ và đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì hội nghị
Ảnh: VGP/Thành Chung

Đây là thông tin đáng chú ý tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tổ chức ngày 11/7 tại Hà Nội.

Mật độ dân số cao với thế giới

 So với năm 2009, vị trí xếp hạng về quy mô dân số của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á không thay đổi và giảm hai bậc so với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Sau 10 năm, kể từ năm 2009 đến nay, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người. Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 10 năm trước (1,18%/năm).

Tỉ số giới tính là 99,1 nam/100 nữ, trong đó khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,5 nam/100 nữ. Tỉ số giới tính tăng liên tục trong những năm qua nhưng luôn thấp hơn 100 trên phạm vi toàn quốc.

Kết quả Tổng điều tra 2019 cũng cho thấy Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km2 và 4.363 người/km2.

Phân bố dân cư giữa các vùng kinh tế-xã hội có sự khác biệt đáng kể, vùng Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm gần 23,4%; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2 triệu người, chiếm 21,0%. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với tổng dân số là 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước.

Trong 10 năm qua, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%. Từ năm 2009 đến nay, tỉ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8 điểm phần trăm.

Toàn quốc có 82.085.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và 14.123.255 người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước. Địa bàn sinh sống chủ yếu của nhóm dân tộc khác là vùng Trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên. Tại vùng rrung du và miền núi phía bắc, nhóm dân tộc khác chiếm 56,2%; con số này ở vùng Tây Nguyên là 37,7%; ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 10,3%; ở các vùng khác, tỉ lệ này chiếm không quá 8%.

Trên phạm vi toàn quốc, tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5%. Trong đó, dân số đang có vợ/chồng chiếm 69,2%; dân số có tình trạng “ly hôn” hoặc “ly thân” chiếm 2,1%; dân số góa vợ/chồng chiếm 6,2%. Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chưa từng kết hôn ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn 6,7 điểm phần trăm, tương ứng là 26,8% và 20,1%. Nữ giới có xu hướng kết hôn sớm và phổ biến hơn nam: Tỉ lệ dân số nam từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn thấp hơn so với nữ, tương ứng là 73,4% và 81,5%.

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số, toàn quốc có khoảng 91,7% dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện đang đi học. Tỉ lệ này của nữ cao hơn so với nam, tương ứng là 92,5% và 90,8%. Trong vòng 20 năm qua, tỉ trọng dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện không đi học (chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học) giảm đáng kể, từ 20,9% năm 1999 xuống còn 16,4% năm 2009 và còn 8,3% năm 2019.

Tỉ lệ đi học chung của bậc tiểu học là 101,0%, bậc THCS là 92,8%, bậc THPT là 72,3%. Ở cấp tiểu học, không có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về tỉ lệ đi học chung (100,9% so với 101,0%). Cấp học càng cao thì khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ đi học chung giữa thành thị và nông thôn càng lớn, cụ thể: ở cấp THCS, tỉ lệ đi học chung của khu vực thành thị cao hơn tỉ lệ đi học chung của khu vực nông thôn là 3,4 điểm phần trăm; mức chênh lệch này ở cấp THPT là 13,0 điểm phần trăm.

Có 95,8% người dân trên 15 tuổi biết chữ

Cả nước có 95,8% người dân từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết, tăng 1,8 điểm phần trăm so với năm 2009. Tỉ lệ nam giới biết đọc biết viết đạt 97,0%, cao hơn 2,4 điểm phần trăm so với tỉ lệ này ở nữ giới. Trong 20 năm qua, tỉ lệ biết đọc biết viết của nữ tăng 7,7 điểm phần trăm; khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ biết đọc biết viết giữa nam và nữ được thu hẹp đáng kể. Năm 1999, tỉ lệ biết đọc biết viết của nam là 93,9%, cao hơn tỉ lệ này của nữ 7,0 điểm phần trăm; đến năm 2019, tỉ lệ đọc biết viết của nam đạt 97,0%, cao hơn tỉ lệ của nữ 2,4 điểm phầm trăm.

Tính đến thời điểm 0h ngày 01/4/2019 cả nước có 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với thời điểm 0h ngày 01/4/ 2009. Tỉ lệ tăng số hộ  bình quân năm là 1,8%/năm trong giai đoạn 2009-2019, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999-2009. Đây là giai đoạn có tỉ lệ tăng quy mô hộ thấp nhất trong vòng 40 năm qua.

Bình quân mỗi hộ dân cư có 3,5 người, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm 2009. Tại khu vực thành thị, trung bình mỗi hộ dân có 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ. Vùng Trung du và miền núi phía bắc có số người bình quân một hộ cao nhất cả nước (3,8 người/hộ); vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước (3,3 người/hộ).

Trong tổng số 26,9 triệu hộ dân cư, vẫn còn 4.800 hộ không có nhà ở; trung bình cứ 10.000 hộ dân cư thì có khoảng 1,8 hộ không có nhà ở. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.

Bản đồ dân số Việt Nam năm 2019

Diện tích nhà ở bình quân đầu người năm 2019 là 23,5 m2/người, cao hơn 6,8 m2/người so với 10 năm trước. Cư dân thành thị có diện tích nhà ở bình quân đầu người cao hơn cư dân nông thôn, tương ứng là 24,9 m2/người và 22,7 m2/người. Không có sự chênh lệch đáng kể về diện tích nhà ở bình quân đầu người giữa các vùng kinh tế-xã hội.

Theo cơ quan thực hiện Tổng điều tra cho thấy, trải qua 10 năm, quy mô dân số nước ta tăng với tốc độ chậm hơn so với giai đoạn 10 năm trước. Trình độ dân trí đã được cải thiện, tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết tăng mạnh; hầu hết trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông đang được đến trường, tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường giảm mạnh trong thập kỷ qua. Việt Nam đã rất thành công trong nỗ lực tăng cường bình đẳng giới bao gồm cả trong lĩnh vực giáo dục trong nhiều năm qua. Điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã được cải thiện rõ rệt đặc biệt ở khu vực thành thị. Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng lên đáng kể, sát với mục tiêu Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011.

Kết quả thể hiện ở số liệu của Tổng điều tra năm 2019 cho thấy nỗ lực và hiệu quả của nhiều chính sách trong thời gian qua đã được thực hiện tốt. Thành quả này có được là nhờ những Chủ trương, đường lối chính sách và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ trong nhiều năm qua; nhờ sự tin tưởng và những nỗ lực không ngừng của mỗi người dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Ngày 26/6/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-TTg về tổ chức Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ 5 tại Việt Nam.

Mục đích của Tổng điều tra là nhằm thu thập thông tin cơ bản về dân số và nhà ở phục vụ hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2030 và giám sát các Mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Được thực hiện trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (viết gọn là Tổng điều tra năm 2019) là cuộc Tổng điều tra đầu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các công đoạn, đặc biệt là công đoạn thu thập thông tin tại địa bàn với hình thức thu thập thông tin chủ yếu điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động, chiếm 99,9% các hộ dân cư. 

Theo Huy Thắng
(chinhphu.vn) 
Tin tức - Sự kiện
Trà Vinh: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2019 tăng 0,77 % so tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 10 năm 2019 tăng 0,77% so với tháng trước. Trong đó, tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,54%, tăng chủ yếu các mặt hàng thực phẩm tăng 1,97% (thịt lợn tăng 13,94%; rau tươi, khô và chế biến tăng từ 4% - 15%,…) do tình hình dịch tả heo Châu Phi nên các hộ chăn nuôi chưa kịp tái đàn, trong khi đó thói quen dùng thịt heo trong chế biến của hộ gia đình Việt khó thay thế được vì thế cung không đủ cầu nên giá tăng.

Hội nghị tổng kết công tác Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Trà Vinh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 trên địa bàn tỉnh. Dự và chỉ đạo Hội nghị có ông Nguyễn Trung Hoàng – Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh. Tham dự Hội nghị còn có ông Trương Tiến Dũng – Cục trưởng Cục Thống kê, Phó Ban thường trực Ban chỉ đạo TĐT tỉnh; các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh và văn phòng BCĐ tỉnh; các Trưởng ban, Phó trưởng ban Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện, thị xã, thành phố; các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong tổng điều tra được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.
Ra quân Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019

Đúng 7h30 sáng ngày 01/10/2019, tại xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, Cục Thống kê phối hợp Ban Dân tộc tổ chức Lễ ra quân tiến hành cuộc điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số trên phạm vi toàn tỉnh. Ông Trương Tiến Dũng  - Cục trưởng Cục Thống kê dự và phát biểu chỉ đạo. Cuộc điều tra nhằm phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số để biên soạn các chỉ tiêu thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê về công tác dân tộc phục vụ xây dựng và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025.

Trà Vinh: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2019 tăng 0,33 % so tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 9 năm 2019 tăng 0,33% so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,18%, tăng chủ yếu là các mặt hàng thực phẩm tăng 2,33% (thịt lợn tăng 7,2%, thịt gia cầm khác tăng 3,97%; trứng các loại tăng 0,28%; thủy sản tươi sống tăng 0,64%; rau tươi, khô và chế biến tăng giá giao động từ 4% đến 19%) do tình hình dịch tả heo Châu Phi trên địa bàn được kiểm soát tốt cộng với ngành thú y tăng cường công tác tiêu độc, khử trùng và kiểm soát giết mổ tập trung đảm bảo an toàn các sản phẩm tiêu thụ nên tâm lý người dân không còn lo sợ nên nhu cầu dùng thịt lợn tăng;

Thông báo kết quả điểm thi Vòng 1 kỳ thi tuyển dụng công chức Tổng cục Thống kê năm 2019

Thông báo số 81/TB-BKHĐT ngày 16/9/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc Thông báo kết quả điểm thi Vòng 1 kỳ tuyển dụng công chức Tổng cục Thống kê năm 2019 và Công văn số 1142/TCTK-TCCB ngày 17/9/2019 về việc thông báo điểm thi và phúc khảo bài thi Vòng 1 kỳ tuyển dụng công chức Tổng cục Thống kê năm 2019.

Vốn FDI thực hiện 8 tháng tăng 6,3% so với cùng kỳ

Theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm 2019 ước tính đạt 12 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu năm đến thời điểm 20/8/2019 có 2.406 dự án FDI mới cấp phép với số vốn đăng ký đạt hơn 9,1 tỷ USD, tăng 25,4% về số dự án và giảm 32,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 908 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt hơn 3,9 tỷ USD, giảm 28,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 8 tháng năm nay đạt hơn 13,1 tỷ USD, giảm 31,2% so với cùng kỳ năm 2018.
Trà Vinh: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2019 giảm 0,15 % so tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2019 giảm 0,15% so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,64%, giảm chủ yếu là các mặt hàng thực phẩm giảm 1,04% (trong đó, thịt lợn giảm 1,17%, thịt gà giảm 2,98%,  thịt gia cầm khác giảm 1,96%; trứng các loại giảm 1,46%; thủy sản tươi sống giảm 2,61%) do ảnh hưởng của bệnh dịch tả Châu Phi trên đàn lợn nên làm giảm nhu cầu dùng thịt lợn của người dân và sản phẩm thịt lợn không được xuất sang các tỉnh khác; sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy hải sản tăng do đang trong vụ thu hoạch dẫn đến giá giảm nhẹ; đặc biệt trong tháng 8 trùng dịp rằm lớn người dân ăn chay nhiều nên giá một số mặt hàng thịt, cá giảm. 

Thông báo về việc triệu tập thí sinh thi tuyển công chức Tổng cục Thống kê năm 2019

Thông báo số 118/TB-HĐTDCCTCTK ngày 01/8/2019 về việc triệu tập thí sinh thi tuyển công chức Tổng cục Thống kê năm 2019 và Lịch thi tại Cụm thi Cần Thơ.

Trà Vinh: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2019 giảm 0,13 % so tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2019 giảm 0,13% so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,19%, giảm chủ yếu là các mặt hàng thực phẩm giảm 0,43% (trong đó thịt lợn giảm 1,29%, nội tạng động vật giảm 2,16%, mỡ ăn giảm 2,98%); lương thực giảm 0,82% (trong đó giá gạo tẻ thường giảm 2,18%, khoai lang giảm 4,57%, khoai mì (sắn) giảm 11,26%).

Hội nghị trực tuyến công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Ngày 11/7/2019, Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc công bố kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Tại điểm cầu Trà Vinh, ông Nguyễn Trung Hoàng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh và các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh; Trưởng ban, Phó ban Ban chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố tham dự Hội nghị.  

12345678910...>>
Số liệu thống kê tháng

  Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 10/2019 
(tăng/giảm so cùng kỳ năm 2018)
 
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 
11,29% 
 
Tổng mức bán lẻ háng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 12,02% 
 
Chỉ số giá (CPI)
 2,88%

 

Thông Báo
Lịch phổ biến thông tin thống kê
tháng 11 năm 2019
 
Chỉ số sản xuất công nghiệp 30/11/2019
Chỉ số giá tiêu dùng  30/11/2019
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 11 năm 2019 30/11/2019

          

Liên kết website

Cục Thống kê Trà Vinh giữ bản quyền nội dung trên website này;

Chỉ được phát hành lại nội dung thông tin này khi có sự đồng ý bằng văn bản của Cục Thống kê Trà Vinh